Nếu chiếc áo dài xứ Huế đã từng làm xao động bao con tim thì chiếc nón lá cũng điểm thêm nét nhấn nhá vào dáng vẻ e ấp của người con gái Huế. Không chỉ là vật thiết thân che mưa nắng, nón Huế đã trở thành một sản phẩm mang đậm nét văn hóa, là cơ sở cho nghề chằm nón Huế phát triển trải qua chiều dài lịch sử hàng trăm năm.

“Nón này che nắng che mưa, nón này để đội cho vừa lòng nhau…”
Huế có nhiều làng nghề chằm nón nổi tiếng một thời như Sịa, Đốc Sơ, Triều Tây, Kim Long, Dạ Lê, Phủ Cam… Tuy ngày nay nghề chằm nón không còn hưng vượng như xưa nhưng chỉ riêng thành phố Huế cũng còn đến 900 hộ theo nghề chằm nón với gần 2.000 lao động, trong đó có gần 50% tập trung ở các phường Xuân Phú, Phước Vĩnh, Phú Hiệp…, làm ra cả triệu chiếc nón lá mỗi năm đem về khoảng 5 tỷ đồng doanh thu cho người dân.

Làng nghề chằm nón Huế
Trong nghề chằm nón, đã có sự phân công lao động rất cụ thể với các khâu riêng rẽ như làm khung, chuốt vành, chằm nón… Khung được làm bằng gỗ nhẹ có mái cong đều với thời gian sử dụng lên đến hàng chục năm. Vành nón thường được làm bằng thân cây lồ ô hay cây mung có rất nhiều ở Huế, được người thợ chẻ, chuốt rất thanh thoát. Mỗi bộ vành thường có từ 15 - 16 vành từ lớn đến nhỏ quyết định độ khum, độ tròn và hình dáng, kích cỡ của chiếc nón, thường được ví như 16 vành trăng. Lá để lợp nón là loại lá nón bình thường, được tuyển lựa và xử lý qua nhiều công đoạn, từ hấp, sấy, phơi sương đến ủi cho mặt lá thật phẳng nhưng để đạt tiêu chuẩn làm nón, lá phải giữ được màu trắng xanh. (còn tiếp)
Mai Kim Thành

Mời bạn xem tiếp tại: http://www.aseantraveller.net/tin-tu...m-non-hue.html