Huyền thoại sông Hương, một Lễ hội có quy mô dàn dựng lớn nhất trên sông từ xưa đến nay
Bản hùng ca của dãy Trường Sơn đã phổ những nốt dịu dàng vào lòng Huế, Hương Giang đã trở thành báu vật của muôn đời mà tạo hóa đã kịp ban phát cho con người vùng đất này. Chính dòng Hương đã cưu mang vóc dáng và hình hài xứ Huế. Con sông này là lý do để tồn tại một đô thị từ Thuận Hóa đến Phú Xuân và sau này là Kinh đô Huế, hình thành phát triển đã qua 700 năm lịch sử.


Điều đặc biệt, con sông đã mang trong dòng chảy của nó biết bao huyền thoại, huyền thoại từ cả tên gọi đến huyền thoại gắn liền với những nhân vật cụ thể trong lịch sử. Đó là nguyên cớ để chương trình Huyền thoại sông Hương (HTSH) hình thành từ ý tưởng rồi phát triển thành kịch bản, dàn dựng thành lễ hội với quy mô lớn trong Festival Huế 2008 năm nay.

Chương trình HTSH được tổ chức trên sông Hương giới hạn từ Ngã ba Bằng Lãng đến Nghinh Lương Đình, gồm hai phần chính: chương trình di chuyển và chương trình cố định Du lich Hue


Mục tiêu của chương trình nhằm khẳng định giá trị văn hóa lịch sử, cảnh quan thiên nhiên của một dòng sông gắn liền với một vùng văn hóa và tình cảm, tâm hồn của con người xứ Huế; khẳng định những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của Cố đô Huế; hướng đến tạo dựng một sản phẩm du lịch hấp dẫn được tổ chức định kỳ, góp phần năng cao vị thế của vùng đất văn hóa, du lịch, làm phong phú đời sống tinh thần của công chúng.

Cùng với 01 chiếc thuyền cung đình là 20 chiếc thuyền rồng sẽ tham gia vào đội hình du thuyền trên cơ sở một họa đồ về cảnh thuyền vua du sông của triều Nguyễn. Thuyền cung đình là một chiếc thuyền lớn được phục hồi thích nghi (khoảng 7m x 18m) dự kiến cho khoảng 50 – 60 du khách/chuyến. Trên thuyền cung đình có bố trí một màn hình để chiếu các powerpoint thuyết minh thêm về các huyền thoại.

Từ bến thuyền lăng Minh Mạng, sau phần ngũ lân nghênh phúc, du khách bắt đầu hành trình trên các con thuyền, thưởng thức ẩm thực, lắng nghe sông Hương kể về những huyền thoại của mình qua 18 điểm nhấn của hành trình.

Cầu Tuần là địa điểm đầu tiên của HTSH, tại đây, một dàn trống lớn được sắp đặt tại mố cầu, tiếng trống thúc giục nghênh đón du khách vào huyền thoại.


Sân khấu Nghinh Lương đình được dàn dựng thành 3 tầng (thượng, trung, hạ); có bốn cụm rồng, hai cụm mây làm màn hình chiếu các slide hình ảnh phông nền phụ họa thêm cho các tiết mục. Tại đây, Huyền thoại sông Hương sẽ tiếp tục được kể qua các loại hình như hoạt cảnh, tổ khúc, vũ khúc, ngâm thơ v v. được dàn dựng một cách công phu.

Có tất cả là 11 tiết mục chính được kết nối bằng lời thoại do các tiên nữ “kể mới” theo lối dẫn chuyện. Thứ tự gồm: tiết mục múa “Cội nguồn dòng sông” với hình ảnh của các tiên nữ dập dìu trong hương thạch xương bồ; hoạt cảnh chúa Nguyễn Hoàng vào Nam với hào khí đi mở đất; hoạt cảnh “Nước non ngàn dặm” kể về cuộc chia tay của Huyền Trân công chúa; “Tứ đại cảnh” với ca từ của vua Tự Đức ngậm ngùi về nhân thế; tiếng trúc, tiếng tơ mềm mại chất chứa bao xúc cảm ru vỗ, an ủi kiếp nhân sinh của bài bản “Long ngâm”; “Trình tường tập khánh” rộn ràng mà cô lắng trong lòng nhân thế; bài thơ “Hương giang hiểu phiếm” của vua Thiệu Trị ngời trên bia đá, bất chấp bao lớp bụi thời gian; “Người đẹp Kim Long” ngời lên làm xao xuyến biết bao đấng tu mi, nam tử; “Vũ khúc Vũ phiến” của chốn hoàng cung thướt tha theo huyền thoại; những “nhân vật” của lịch sử đâu đó hiện về qua các y phục cung đình; “Lục cúng hoa đăng” nghiêm cẩn, thanh thoát sẽ kết thúc chương trình nghệ thuật.

Sân Nghinh Lương đình rộn rã trong tiết mục lân sư rồng tiễn chào du khách, các màn pháo hoa thắp sáng...

Trên cơ sở là chương trình HTSH, chủ trương của ban tổ chức là sẽ duy trì các nội dung chủ yếu, sẽ có sự điều chỉnh phù hợp với thực tế để có thể khai thác chương trình như một tour du lịch, phục vụ lâu dài, tạo nên một sản phẩm văn hóa đặc trưng của các sinh hoạt văn hóa vào ban đêm của Huế. Tất nhiên, từ lý thuyết đến thực tiễn là một khoảng cách, trên hết là phải tùy thuộc vào yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau, nhất là rất cần đến sự cộng hưởng của xã hội.

Huế - Bài thơ đô thị

Năm 1636, chúa Nguyễn Phúc Lan chọn Kim Long để xây dựng thủ phủ Ðàng Trong, từ đó phát triển lên thành Ðô thành Phú Xuân (thời chúa Nguyễn Phúc Khoát) rồi Kinh đô Huế (thời vua Quang Trung tiếp sang triều đại các vua Nguyễn), luôn luôn trên một địa bàn đô thị như bây giờ.

Như vậy tính đến nay, đô thành Huế đã tồn tại gần 360 năm, và xét về mặt kiến trúc, vẫn giữ gần như nguyên vẹn một đô thị Việt Nam cổ xây dựng từ đầu thế kỷ XIX. Do vị trí lịch sử đặc biệt kéo dài trong nhiều thế kỷ, Huế có điều kiện giao lưu và tài bồi để tạo nên một trong những trung tâm văn hóa - lịch sử lớn nhất của đất nước.


Ðường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ


Sơn - Thủy là cặp yếu tố mang ý nghĩa giao hòa trường cửu rất được nhấn mạnh trong tư duy qui hoạch của những kiến trúc sư thời cổ đã xây dựng nên kinh thành Huế. Chính nhờ thế, mãi cho đến ngày nay, Huế là một trong số ít ỏi còn lại giữa lòng thế giới hiện đại vẫn đắm mình trong bài thơ sâu thẳm của thiên nhiên. Núi, sông hồ và biển dựng nên một không gian hoành tráng vừa mở ra tầm nhìn bát ngát, vừa viền khung lại trên mặt đất những bức tranh biến ảo đầy màu sắc do chính thiên nhiên vẽ vời nên. Thành phố đã từng biết đến nhiều thế kỷ tráng lệ này bây giờ vẫn còn lại một món quà tặng quý giá dành cho con người, đáp ứng một khao khát đang trở nên bức xúc đối với cư dân những đô thị hiện đại, là nhu cầu thiên nhiên.


Sông Bến Ngự Đèo Hải Vân

Thiên nhiên mãi mãi tạo ra cho Huế một nỗi yên tĩnh, thật dễ chịu để chia sẻ với tâm hồn con người. Nhưng khác với im lặng của quá khứ, sự yên tĩnh của cố đô Huế vẫn sinh động cuộc sống nội tâm, với âm hưởng hào hùng của núi non, vị nồng mặn của biển, vẻ trầm mặc của dòng sông và hoa trái bốn mùa của những khu vườn. Ở đây thiên nhiên không chỉ là vẻ đẹp để ngắm, thiên nhiên còn hàm dưỡng những chất sống rất cần thiết cho con người... Vậy thiên nhiên chính là chất thơ sâu thẳm và còn mãi của Thành phố Kinh xưa này. Một người Nga, kiến trúc sư Iu. Murdin, đã nhận xét rằng trên thế giới có những loại Thành phố khác nhau: thành phố - công nhân, thành phố - khoa học, thành phố - cảng, thành phố khổng lồ và siêu khổng lồ. "Nhưng thật hiếm một thành phố - thơ. Vậy mà ở Việt Nam có thành phố như thế. Ðó là Huế".

Chúa Nguyễn Phúc Lan xứng đáng là người sáng lập Kinh Thành Huế, khi ông quyết định dời thủ phủ từ khu vực thành Châu Hóa xưa về Kim Long, chọn sông Hương làm trục chính để xây dựng thành phố. Ít có một dòng sông như vậy, như một dòng trường ca chuyên chở hết những giao hưởng của một vùng văn hóa xứ sở. Băng ngàn qua chất thơ hùng tráng của văn hóa cồng chiêng giữa lòng rừng già, dòng sông trở nên trầm mặc như triết nhân dưới chân những lăng tẩm, cổ tự và di tích trải dọc triền đồi trung du, mơ màng như mỹ nhân qua kinh thành để rồi òa vỡ thành khát vọng khi hòa mình vào phá Tam Giang kề biển. Ðến đây, phá sẽ thay sông đưa thành phố về phương Nam, gặp lại thành phố nghỉ mát Bạch Mã nổi tiếng bên bờ đầm Cầu Hai, dong ruổi qua những bãi biển lý tưởng Cảnh Dương và Lăng Cô, dưới chân đèo Hải Vân mà đá ải xưa vẫn chưa mờ bốn chữ "Ðệ nhất Hùng Quan
Du lich HueÐấy chính là tiềm năng du lịch quyến rũ nhất của Huế; và nếu biết trồng cây thì, nói như một câu thơ Pháp, "trái sẽ vượt qúa lời hẹn của bông hoa" (Et les Fruits dépasseront la promesse des fleurs).

Trên nền thơ bát ngát kia của thiên nhiên, quần tụ những công trình đại - kiến - trúc do con người xây dựng nên. Kiến trúc Nguyễn là một di sản hoàn mỹ đem lại niềm tự hào dân tộc về tài năng sáng tạo và tư tưởng cộng đồng của người Việt sau thời đất nước tái thống nhất vào đầu thế kỷ XIX.
Ðiều đáng ngạc nhiên trước hết là tính khoa học rất cao hàm chứa trong bản thân các di tích Huế, thí dụ như những tỷ lệ vàng trên tổng thể kiến trúc Cửa Ngọ Môn, phép đúc đồng bằng phương tiện thủ công để tạo nên những sản phẩm khổng lồ liền lỉ không dấu vết nơi Cửu Ðỉnh, hộc đá âm vang đàn Nam Giao, mỹ nghệ trang trí bằng pháp lam, hoặc tỉ mỉ hơn, cách sắp xếp kiểu phương trận một nhóm chữ ít ỏi từ đó có thể đọc thành hàng chục bài thơ ở điện Long An, hoặc sự bố trí bí ẩn những câu của mỗi bài thơ rải rác quanh những mái nhà của lăng Minh Mạng; tất cả là những trò chơi đánh đố trí tuệ mà mãi gần đây đã được những nhà nghiên cứu giải mã. Từ năm 1957, nhóm các nhà Ðông Phương học Quốc tế do Viện sĩ Pháp Jean Cocteau cầm đầu đã xếp các di tích Huế vào hạng mục "những kỳ quan thế giới" (Les Merveilles Du Monde, Paris-1957).