Vụ án Ly hôn : Vấn đề hủy kết hôn trái pháp luật
Bên cạnh ly hôn thì hủy kết hôn trái pháp luật cũng dẫn đến chấm dứt hôn nhân. Khác với ly hôn - là do có nguyên nhân phát sinh từ cuộc sống của vợ chồng. Hủy kết hôn trái pháp luật là do có vi phạm pháp luật về điều kiện kết hôn, tảo hôn... Chế định này được qui định cụ thể trong Luật hôn nhân và gia đình và các văn bản có liên quan

Kết hôn trái pháp luật được hiểu là việc xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định (điểm 3 điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000- sau đây được viết tắc là Luật Hôn nhân- Gia đình) nên cần phải hủy. Việc hủy kết hôn trái pháp luật được ghi nhận tại các điều 15,16 và 17 trên cơ sở các điều 9, 10 và kế tiếp Luật Hôn nhân-Gia đình và về sau tuy được cụ thể hóa tại Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23-12-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhưng vẫn chưa toát lên hết các khía cạnh của vấn đề mà người viết bài này mong muốn được bổ sung.
Bài viết này sẽ không đề cập đến các nguyên nhân cũng như những ai có thể hành sử quyền đề nghị hủy kết hôn trái pháp luật mà chỉ giới hạn đến quyền hành sử đề nghị này cũng như tính hồi tố hay không của quyết định hủy kết hôn trái pháp luật được tuyên bởi Tòa án.

Về quyền hành sử đề nghị hủy kết hôn trái pháp luật
Không như Bộ Dân luật Pháp được phản ánh tại điều 180 và kế tiếp trong phần được gọi là “Các yêu cầu xin tuyên bố vô hiệu hôn thú” có nói đến thời hiệu của việc hành sử quyền này, Luật Hôn nhân- Gia đình sau khi liệt kê những ai có thể hành sử quyền xin tiêu hủy việc kết hôn trái pháp luật lại không đưa ra một hạn kỳ nhất định.

Về mặt lý luận phù hợp với lợi ích xã hội lẫn lợi ích cá nhân thì việc hành sử quyền đề nghị hủy kết hôn trái pháp luật nếu vi phạm điều 10 Luật Hôn nhân-Gia đình tại khoản 1 (vi phạm chế độ 1 vợ 1 chồng), khoản 2 (giữa những người cùng dòng máu trực hệ), khoản 3 (giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa những người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng và con dâu, mẹ vợ với con rễ, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng), khoản 4 (giữa những người cùng giới tính) thiết nghĩ có thể hành sử bất cứ lúc nào vì nó mang tính khách quan “trật tự công cộng- trật tự chung /ordre public và “vi phạm đạo đức xã hội” thì những cơ sở hành sử quyền đề nghị hủy kết hôn trái pháp luật khác còn lại được quy định tại điều 9 (độ tuổi kết hôn, sự tự nguyện kết hôn) hay khoản 2 của điều 10 (về mất năng lực hành vi dân sự) lại khó chấp nhận hành sử bất cứ lúc nào vì nó có tính chủ quan và chỉ liên quan đến vợ, chồng hoặc cả hai nhất là khi các thành tố vi phạm không còn tồn tại vì hai bên đã có một cuộc sống dài ngày và ổn định.

Luật phương Tây xem các trường hợp vô hiệu thứ nhất có tính cách tuyệt đối trong khi các trường hợp thứ hai chỉ là vô hiệu tương đối. Vì vậy nếu đối chiếu với luật viết Việt Nam, điều này thật khó lý giải nếu việc hành sử quyền đề nghị hủy kết hôn trái pháp luật lại được hành sử bởi người thứ ba hay một cơ quan, tổ chức mà Luật cho phép chứ không phải chính là người vợ hay người chồng nằm trong trường hợp nêu trên.

Tuy luật viết không có một điều khoản nào nói rõ nhưng ở góc độ hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân - Gia đình, Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP nêu trên đã cho ta thấy có một sự linh động trong vấn đề này khi Tòa án nhân dân tối cao lưu ý các cơ quan xét xử khi thụ lý giải quyết vụ việc. Các quy định tại điểm 2 của Nghị quyết 02 cho ta cảm nhận rằng trên cơ sở một cuộc sống bình thường và không phát sinh mâu thuẫn thì mỗi khi những vi phạm điều kiện kết hôn không tồn tại vào thời điểm có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật (không còn ở độ tuổi chưa được kết hôn; đã có sự thông cảm về việc đã bị cưỡng bách kết hôn; việc kết hôn trước đã chấm dứt -ví dụ như đã có án ly hôn chung thẩm) thì không hủy việc kết hôn. Nếu về sau giữa hai người sau một thời gian chung sống hòa thuận có phát sinh mâu thuẫn thì Tòa án thụ lý vụ án trên cơ sở các điều khoản quy định về ly hôn chứ không trên cơ sở của việc hủy kết hôn trái pháp luật. Với việc hưỡng dẫn trên, ta có cảm nhận rằng việc hủy kết hôn trái pháp luật sẽ không được nêu ra mỗi khi các điều kiện kết hôn bị vi phạm không còn nữa.

Với tinh thần đã nêu của Nghị quyết 02/2000; phải chăng cho thấy hình như Nhà giải thích-áp dụng luật (Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) có khuynh hướng mềm dẽo trong việc áp dụng các quy định về hủy kết hôn trái pháp luật và phần nào thừa nhận/đồng hóa việc kết hôn như là một giao dịch dân sự giữa hai người và tùy trường hợp giao dịch này vô hiệu tuyệt đối hay vô hiệu tương đối và dẫn đến việc giới hạn hay không giới hạn thời gian hành sử quyền đề nghị hủy kết hôn trái pháp luật.

Tính hồi tố hay không hồi tố của việc hủy kết hôn trái pháp luật
Về vấn đề này khi đề cập đến hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật, điều 17 Luật Hôn nhân-Gia đình không xác định một cách rõ ràng mà chỉ ghi “hai bên nam nữ phải chấm dứt quan hệ vợ chồng”. mặt khác điều 16 lại quy định “căn cứ vào quyết định của Tòa án, cơ quan đăng ký kết hôn xóa đăng ký kết hôn trong sổ đăng ký kết hôn”. Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23-12-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng không đưa ra một hướng dẫn cụ thể vấn đề này.


Trong ngôn ngữ thường nhật và dựa trên ngôn từ, ta có thể giải thích là quan hệ vợ chồng chỉ bị chấm dứt kể từ ngày án văn quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật có hiệu lực hoặc kể từ ngày việc đăng ký kết hôn bị xóa chứ không có tác dụng làm mất hiệu lực các quan hệ gọi là hôn nhân trong khoảng thời gian giữa ngày đăng ký kết hôn và ngày án văn quyết định hủy kết hôn có hiệu lực/ hoặc ngày việc đăng ký kết hôn bị xóa.
Nhưng về mặt ngôn ngữ pháp lý ta có thể giải thích như trên được không? Nếu bản chất của ly hôn là chấm dứt quan hệ vợ chồng trên cơ sở yêu cầu tự nguyện của một hoặc cả hai vợ chồng thì phải hiểu rằng hủy kết hôn trái pháp luật là một hình thức chế tài cho những hôn nhân thành tựu (có đăng ký kết hôn) nhưng vi phạm những trường hợp luật cấm hoặc không đủ điều kiện để kết hôn. Và khi nói chế tài thì phải hiểu cụm từ “chấm dứt hôn nhân” có nghĩa là xóa bỏ -chính xác là hủy một hành vi (kết hôn) vì nó vô hiệu do vi phạm các điều luật cấm chứ không phải là chấm dứt hành vi đó. Chấm dứt cuộc sống chung chỉ là hệ quả của việc xóa bỏ hôn nhân. Vì thế theo người viết bài này hủy việc kết hôn trái pháp luật phải có tính hồi tố.

Trên cơ sở giả định chưa có một kết luận rõ ràng, một vài vấn đề có thể nảy sinh trong thực tiễn và đâu là giải pháp đưa ra giải quyết:
Công ty Luật hợp danh Danzko - Đoàn luật sư Hà Nội
Giám đốc: Lê Huy Quang ĐT: 0912519823 - 04. 37931223 Fax: 04. 37931224


Website: www.tuvanphapluat.mobi www.thutuclyhon.vn www.luatsuhinhsu.com www.tranhchapdatdai.com
Email: tuvanphapluat.mobi@gmail.com